Đi là chết ở trong lòng một ít
Edmond Haraucourt (1891)
Chuyển ngữ theo lối Xuân Diệu
![]() |
Năm 1947, đi tản cư về là tôi phải tự túc học rút để thi bằng Trung học phổ thông. Chỉ có ba tháng chuẩn bị, không có thì giờ học hết các môn, tôi phải bỏ quên lịch sử, địa dư, lướt qua quốc văn, sinh ngữ và tự học các môn có chương trình rõ rệt : khoa học và đặc biệt toán. Học như vậy đã đem lại cho tôi kết quả mong muốn : đậu cao Trung học phổ thông rồi đậu đầu luôn vào ban khoa học B (Vạn vật học) trường Trung học Khải Định ở Huế. Nhưng sau nầy sống xa xứ, tôi mới thấy lỗ hổng lớn về sử ký, địa dư, âm nhạc, phong tục nước nhà, nói chung thiếu hiểu biết văn hóa của một nơi mình đã sống suốt thời kỳ tuổi trẻ. Nếu không kiếm cách bồi bổ thì sớm mất gốc và khó lòng hấp thu văn hóa nước người. Mức toán học của tôi còn giúp tôi năm 1948 thi tuyển đậu vào trường Vô tuyến điện thuộc Viện Đại học Sài Gòn : vào vấn đáp chỉ có một môn toán độc nhất mà giám khảo lại là ông Charles Harter, giáo sư cũ của chúng tôi ở trường Khải Định trước cuộc đảo chính 1945. Thế là đến kỳ khai giảng, tôi mang khăn gói cùng bốn bạn từ giả ngôi truờng mến yêu, thành Huế dịu dàng, lên đuờng đi du học Sài Gòn.
Đây là cuộc ra đi xa đầu tiên của tôi. Biết bao trìu mến khi rời một nơi quen thuộc, và cũng biết bao xao xuyến khi sắp bước vào một nơi đô hội có tiếng là phồn hoa nhưng cũng vô cùng xa lạ. Thời ấy, Sài Gòn trong mắt người Huế được xem như ở tận phương trời xa thẳm. Vào buổi chinh chiến, đường sắt luôn bị nổ mìn, máy bay quá đắt, phương tiện duy nhất còn lại là đáp tàu thủy từ Đà Nẵng. Tàu chở hành khách hiếm có, sợ chậm ngày khai giảng, chúng tôi xin đi nhờ trên một chiếc tàu chở hàng hóa, không đủ phương tiện và phải chịu đựng những điều kiện khắt khe nhất là bị sóng dồi, dù tàu chỉ chạy dọc theo bờ biển. May mà chỉ có mấy ngày…
Nhưng từ đây Huế đối với chúng tôi là nơi xa cách nghìn dặm, hết còn tính chuyện về thăm ngày lễ, nghỉ hè. Riêng phần tôi, rủi ro cụ mạ tôi liên tiếp từ trần sau khi đau đớn rời bỏ nhà cửa suốt đời xây dựng ở Mỹ Cang để vào Huế ở nhà anh tôi : tôi cũng chẳng có phương tiện về đưa đám, tủi lòng cam phận ! Sợi giây liên lạc với gia đình từ nay đối với tôi cũng có phần duỗi giãn và tôi không do dự tiến thêm một bước nữa.
Vào lúc Pháp đang muốn chiếm lại Đông Dương mà Việt Nam thì đã thức tỉnh từ sau biến cố 09.03.1945, tình hình rất căng thẳng. Dân chúng chờ đợi một cuộc phản công mảnh liệt bắt đầu cho một cuộc kháng chiến trường kỳ. Thanh niên nếu không gia nhập đoàn quân Cách mạng thì phấp phỏng chờ đợi kêu gọi nhập ngũ quân đội Cọng hòa. Những gia đình khá giả kiếm cách cho con cái tránh xa chiến tranh. Phong trào du học bộc phát.
Riêng phần tôi, học hành là ưu tiên nên khi chị tôi và mấy anh tôi đề nghị gom góp cho tôi hai năm ăn học ở Pháp, tôi không ngần ngại chạy lo giấy má lên đường. Lần nầy không phải chỉ rời thành phố thân yêu mà còn từ giả đất nước ruột thịt. Tuy ở trường trung học cũng như ở viện đại học, chúng tôi đã có dịp tiếp xúc người Pháp nhưng giờ đây vào ở ngay đất Pháp, ngôn ngữ bất đồng, phong tục khác biệt, liệu mình có đủ những đức tính can đảm, tháo vát, chịu đựng để đương đầu với cuộc sống mới không ? Hành lý độc nhất tôi mang theo như lá bùa hộ mệnh là tính hăng say, năng lực của tuổi trẻ : tôi ra đi đúng vào tuổi 20 năm 1949.
Hồi ấy máy bay là phương tiện của người giàu có, cùng với vài người bạn, tôi chỉ có thể mua được một vé hạng ba tàu thủy trên chiếc La Marseillaise chạy từ Sài Gòn qua Marseille, nghĩa là ăn nằm ở đầu tàu cùng với những binh sĩ Pháp hồi hương. Những bửa cơm Pháp đầu tiên mở đầu đời sống khắc khổ trong tương lai : hằng ngày, chúng tôi phải sắp hàng nhận thức ăn gồm có khoai tây luộc, một miếng thịt dai và một muỗng mứt trong một mâm thiết rồi lên ngồi ăn trên boong tàu.
Sau hai mươi năm ăn cơm dù có khi chỉ với mắm ruốt, bây giờ dùng khoai luộc không mùi vị, lạt nhách thật là khó nuốt. Nhớ da diết những hột cơm mềm dẻo, nước tương mặn mà. Nhưng thật ra cũng chẳng ăn uống được nhiều vì tàu tròng trành, đồ ăn dù ít cũng khó giữ trong bụng nên thà ngồi xem mây nước, cá nhảy ngoài khơi, hay bàn tán thời sự chính trị nếu không mơ mộng về những kỷ niệm xa xưa có thể không còn có dịp sống lại. Thỉnh thoảng cả bọn kéo nhau đi dạo lên các hạng trên xem mấy cô đầm nô đùa trong bể tắm, nghe tiếng cười dòn của những kẻ vô tư, hay xem đi xem lại phim La symphonie pastorale mỗi lần gây lên một nỗi buồn vô hạn trong lòng người đã sẵn u sầu, hay cùng lắm vào phòng nghe nhạc cổ điển Âu Tây réo rắt những giai điệu không hề quen biết, báo trước điều kiện sinh sống xa lạ trong những ngày sắp tới. May thay có những hải cảng Singapore, Colombo, Port Said, Djibouti,… trong một vài giờ đưa chúng tôi ra khỏi buồn phiền và nhắc nhủ mau bắt đầu làm quen với cuộc sống mới.
Sau 17 ngày lênh đênh trên đại dương, tàu cập bến Marseille ngày 10.10.1949, thả tôi vào định mệnh của một kẻ sống tha hương. Thời gian thật quá mau qua, dự định học nghề hai năm, thế mà gặp một môi trường mới lạ nhưng thích hợp mở rộng tầm mắt, đưa đẩy học hành, tôi được giữ lại thấm thoắt đã 60 năm trên đất khách nầy…
Xô thành mùa xuân 2009
Nhân kỷ niệm bát tuần Kỷ Tỵ – Kỷ Sửu




February 12th, 2012
admin 
Posted in
Tags: 


